Đằng sau 10 lời hứa Hôn nhân là cả một Khoa học

by swanxuan

Tại sao các vị tướng lỗi lạc luôn cần có một bài diễn thuyết hùng hồn với binh lính trước khi ra trận. Trong đó là hàng loạt những từ ngữ ngợi ca, khích lệ, tôn vinh và rất nhiều lời hứa. Bầu cử tổng thống hay bất cứ một chính trị gia nào cũng vậy, chiến dịch kêu gọi quần chúng luôn kết luận với những lời hứa và cam kết?
Vì người ta luôn cần ít nhất một thứ để tin cậy.
Hôn nhân cũng vậy!
Và lời hứa trong hôn nhân luôn cần thiết để nói ra những cam kết, trước sự chứng kiến của rất nhiều người liên quan. Vừa để thể hiện tình yêu, vừa là niềm tin cho nhau. Hay là cái để gợi nhớ đến trách nhiệm trong những năm tháng sau này.
Cũng ít ai biết được ý nghĩa sâu xa đằng sau những lời hứa hôn nhân ấy, thậm chí người trong cuộc có khi còn không nghĩ nhiều đến vậy. Bài này tôi không viết một mình, mà inspired từ một bài báo trên The Huffington, nói về một bộ môn KHOA HỌC, Khoa học của những mối quan hệ. Đọc thấy hay và quả thật trong đây cũng có nhiều thứ mình chưa biết, hoặc biết chưa tới. Tác giả viết nhiều, những chục trang, tôi đọc, và tự viết lại theo cách mình hiểu, có những sai khác và dân dã hơn, nhưng chắc sẽ dễ hiểu và đồng cảm hơn.

1.
I promise to respect, admire and appreciate you for who you are, as well as for the person you wish to become
[Vietnamese] Anh hứa sẽ tôn trọng, ngưỡng mộ và trân trọng em khi em chính là em, cũng như con người mà em muốn hướng tới
Lời hứa trong hôn nhân dựa trên HIỆU ỨNG Michelangelo, trong đó các cá nhân phụ thuộc lẫn nhau, và ảnh hưởng “điêu khắc” lên nhau để cùng trở nên một bản thân lý tưởng. Nói một cách dân dã hơn là: bạn hứa sẽ yêu thương người bạn đời của mình vì chính họ, và cả hình tượng mà họ sẽ trở thành sau này, vì trong quá trình “trở thành” đó, bạn cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Chung quy là phải có trách nhiệm trong đó.

2.
I promise to support and project your freedom, because although our lives are intertwined, your choices are still yours alone
[Vietnamese] Anh hứa sẽ ủng hộ và bảo vệ sự tự do của em, bởi vì dù cho hai ta đã gắn bó cùng nhau, thì lựa chọn hoặc quyết định của mỗi người vẫn là riêng biệt.
Lời hứa này được rút ra từ nguyên lý của QUYỀN TỰ CHỦ. Nguyên ý nghĩa là: dù cho cuộc sống và xã hội có gắn bó hai con người với nhau (một cách tự nguyện và hoàn toàn yêu thương nhé) thì mỗi người đều phải tự giữ lấy và duy trì cái “tôi” của riêng mình. Cụ thể hơn là: phải luôn vững vào bản thân, để mỗi khi đưa ra quyết định gì đó, bạn phải nhận thức được là quyết định đó chính là của mình, không phải của ai khác. Khi làm được như thế bạn sẽ luôn cảm thấy thoải mái với lựa chọn của mình, dù đúng hay sai. Và sẽ không sống trong cảm giác ức chế, bị kiềm cặp, hay luôn oán trách người khác vì đã phải làm theo ý họ.
Đại khái là phải bảo toàn cái tôi của mình, ở mức độ cho phép.

3.
I promise to seek a deep understanding of your wishes, your desires, your fears and your dreams
[Vietnamese] Anh hứa sẽ luôn cảm thông sâu sắc nhất với những ước muốn, hy vọng, đam mê, ước mơ và cả nỗi sợ hãi trong em.
Lời hứa hôn nhân này phản ánh CHỦ NGHĨA TRÁCH NHIỆM. Ở đó hai cá nhân phải luôn tìm cách để hòa hợp, tìm điểm chung giữa những gì mình muốn, và những gì người bạn đời muốn. Đây là điều quan trọng và là chìa khóa của một mối quan hệ hôn nhân lâu bền và lành mạnh.

4.
I promise to always strive to meet your needs; not out of obligation, but because it delights me to see you happy
[Vietnamese] Anh hứa sẽ cố hết sức mình để mang đến những gì em cần, không phải là một sự gượng ép, mà bởi vì anh sẽ vui khi nhìn thấy em hạnh phúc.
Thần thái của câu hứa hẹn này có vẻ như mang đến nhiều “nguy cơ khó lường” cho người nói ra, nhưng thực sự, trong hôn nhân, THUYẾT HY SINH đóng vai trò quan trọng. Đôi khi mang đến những gì người khác cần sẽ đưa bạn vào thế khó, phải hy sinh một số thứ của bản thân, nhưng đổi lại cái bạn có sẽ là niềm hạnh phúc của đối phương. Nếu cán cân này chừng nào còn khiến bạn cảm thấy thoải mái và dễ chịu, thì khi đó hạnh phúc sẽ đến. Thuyết hy sinh đòi hỏi đi kèm là sự CÂN BẰNG. Có cả hai điều này thì hạnh phúc mới là đích thực và lâu bền.

5.
I promise to be there for you when you need me, whenever you need me
[Vietnamese] Anh hứa sẽ luôn bên cạnh khi em cần, bất cứ khi nào em cần.
Khi gặp khó khăn, thất bại, buồn bã, vui sướng, ai là người bạn muốn có bên cạnh nhất. Đó sẽ chính là người mang lại hạnh phúc cho bạn, và xứng đáng là bạn đời. Lời hứa trên dựa vào Nguyên lý SÓNG ĐÔI: hai đường thẳng có ít nhất 2 đoạn song song nhau, thì sẽ song song nhau mãi mãi (dù trải đất có hình tròn).

6.
I promise to nurture your goals and ambitions, to support you through misfortune and celebrate your triumphs.
[Vietnamese] Anh hứa sẽ vun đắp cho mục tiêu và hoài bão của em, cùng em bước qua những vận rủi trong đời, và chia sẽ tiếng cười cho thành công của em.
Đây là phần còn lại cùa Nguyên lý Sóng đôi. Đôi khi cuộc đời bạn không phải là đường thẳng, sẽ có những gập ghềnh lên xuống trong đó, người bạn đời chính là người sẽ cùng đi theo những sóng gió đó, để dù cho có thành 2 đường cong veo, thì vẫn mãi luôn song song nhau.

7.
I promise to keep our lives exciting, adventurous and full of passion
[Vietnamese] Em hứa sẽ luôn gìn giữ cuộc sống lứa đôi của hai đứa luôn hào hứng, thú vị, đầy khám phá và tràn đam mê
Thuyết TỰ MỞ RỘNG BẢN THÂN đã tạo ra nền tảng cho lời hứa hôn nhân này: hai người sẽ luôn vui vẻ hơn nếu luôn cùng nhau tạo ra sự mới mẻ và niềm hứng khởi cho nhau.

8.
I promise to persevere when times get tough, knowing that any challenges we might face, we will conquer them together
[Vietnames] Em hứa sẽ kiên nhẫn dù mọi thứ có trở nên khó khăn, vì biết rằng mọi thử thách mà mình có thể đối diện, mình sẽ cùng nhau vượt qua được.
Lời hứa này liên quan đến một định nghĩa Triết học: SỰ CAM KẾT. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi hai cá thể hoàn toàn độc lập họ sẽ suy nghĩ theo hướng “tôi phải giải quyết vấn đề này”. Còn khi đến với nhau, cam kết bằng một cuộc hôn nhân vững bền, cả hai sẽ cùng có suy nghĩ “Chúng ta cùng nhau giải quyết vấn đề này”. Lời hứa này và lời hứa số 2 có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng lại bổ sung và phụ trợ nhau. Trong cái chung có cái riêng và ngược lại, điều tiết được 2 mặt của vấn đề, bạn sẽ có hạnh phúc lâu bền.

9.
I promise to treat you with compassion over fairness, because we are a team, now and for always.
[Vietnamse] EM hứa sẽ đối xử thật tốt với em, với tất cả sự khoan dung và hơn cả công bằng, bởi vì hai ta là một team, bây giờ vả mãi mãi.
Tôi đặc biệt thích khái niệm “we are a team” và “over fairness”. Lời hứa xây dựng trên NGUYÊN TẮC HƯỚNG VỀ CỦA CHUNG. Nghĩa là bạn đóng góp vào mối quan hệ dựa trên cho-nhận. Khi đó bạn là một cá nhân trong một tập thể (tập thể ở đây chỉ có 2 người), trong tập thể đó phần đóng góp là như nhau, cho nên phần được cũng là như nhau.

10.
I promise to show you, everyday, that I know exactly how lucky I am to have you in my life
[Vietnamese] Anh hứa sẽ cho em thấy, mỗi ngày, rằng anh hạnh phúc và may mắn thế nào khi có em trong đời.
Khái niệm LÒNG BIẾT ƠN trong triết học đang được dùng ở đây. Khi người ta cảm kích về người bạn đời của mình, họ sẽ vui hơn và cam kết nhiều hơn cho mối quan hệ. Và khi họ thể hiện lòng biết ơn ấy ra ngoài, người bạn đời cũng sẽ cảm thấy tự hào, phấn chấn, và đầu tư nhiều hơn cho cuộc sống của cả hai. Có qua có lại, hạnh phúc cả làng!
>> Tất cả 10 lời hứa hôn nhân này được viết lại một cách chi tiết và rành mạch hơn trong KHOA HỌC CỦA NHỮNG MỐI QUAN HỆ, một tác phẩm của bộ môn Triết lý mối quan hệ, đã được nghiên cứu, tìm tòi và đúc kết từ rất nhiều năm.

Advertisements